Nút dây và bảo hiểm khi leo

Năm tên này đi cùng một việc trên núi: giữ người bằng dây, hoặc xử trí bệnh độ cao. Bốn tên khớp tài liệu. Cụm "nút thắt số 3" thì không. Đọc ngày 2026-10-15. Cách thắt để dùng trên người học với người kiểm được nút. Một đoạn chữ không thay việc đó. Knots3d ghi cùng cảnh báo: khi nút sai có thể gây thương tích hoặc chết, đối chiếu với người có kinh nghiệm.

Nút Prusik

Nút pusik là nút Prusik, phát âm gần "pru-sik". Karl Prusik đưa nút này vào dùng từ thập niên 1930. Đó là một friction hitch: vòng dây phụ quấn quanh dây chính. Kéo đuôi thì nút bám. Đẩy thân nút thì nút trượt. Nút bám cả hai chiều, khác nhiều khóa dây cơ khí chỉ chạy một chiều như bánh cóc.

Dây phụ thường khép thành vòng bằng nút nối dây câu đôi (double fisherman). Sau khi chịu tải nặng, cả nút Prusik lẫn nút nối đó có thể siết chết và khó mở. Nút bám nhờ ma sát. Dây ướt đóng băng làm nút mất tác dụng. Khóa cơ khí vẫn làm việc trên dây ướt hoặc đóng băng, đổi lại nặng hơn và cồng kềnh hơn. Thêm vòng quấn thì thêm ma sát. Tải rất lớn có thể làm nút trượt. Leo dây cố định hoặc kéo người bị thương là mức tải mà các bài hướng dẫn coi là việc của nút này, không phải thử tải phá dây.

Cách lên một sợi dây cố định dùng hai nút. Một vòng ngắn vào vòng đai trước bụng. Một vòng dài hơn tới bàn chân. Đứng vào vòng chân, đẩy nút ở đai lên, ngồi xuống nút đó, rồi đẩy vòng chân lên và lặp lại. Khi nút đang trượt dọc dây thì không để nó chịu ma sát. Nút hoặc đang kẹp và đứng yên, hoặc đang được nới và di chuyển.

Nút này không phải nút buộc người vào dây leo, và không phải nút nối hai sợi dây. Nút dự phòng khi đu dây thường là French prusik, còn gọi autoblock hoặc nút Machard, không phải nút Prusik hai chiều này. Xem Đu dây (abseiling).

Nút thuyền chài

Trong tài liệu hướng đạo và cắm trại tiếng Việt, nút thuyền chài là clove hitch. Cùng tên với nút quai chèo. Trang trường Lê Đức Thọ và bài trên kienthucdulich.com mô tả nó để buộc dây thuyền vào cọc, buộc đầu dây lều, và làm nút mở đầu khi chằng cây. Knots3d gọi dạng thắt giữa dây, không cần đầu dây, là clove hitch in the bight, ABOK #1245. Trang đó liệt kê việc móc dây vào carabiner, chỉnh chiều dài dây nối, và buộc vào điểm neo ở trạm bảo hiểm.

Nút ôm vật bằng hai nửa khóa ngược chiều. Trên cọc hoặc trên carabiner khóa, nó thắt nhanh và chỉnh được. Nó không phải nút buộc dây leo vào đai. Nút dẹt, nút ghế đơn, và nút số 8 là các nút khác. Đừng gọi thuyền chài bằng những tên đó.

Dạng "nút chạy khóa thuyền chài" trên kênh Kỹ năng gút dây là biến thể để tăng giảm dây căng lều, đứng cạnh taut-line hitch (nút chạy khóa sơn ca). Đó không phải clove hitch nguyên dùng ở trạm bảo hiểm.

Running belay

Tiếng Anh đang dùng cụm này cho hai việc khác nhau. Gộp lại thì hiểu sai mức nguy hiểm.

Collins gọi running belay, còn gọi là runner, là việc người đi trước móc dây qua carabiner gắn vào sling, piton, hoặc nut đã cài trên núi, để một cú ngã ngắn lại. Đó là điểm bảo vệ trên một pitch có người bảo hiểm đứng yên bên dưới.

Wikipedia chuyển trang Running belay sang simul-climbing. Ở nghĩa này, hai người buộc cùng một dây cùng lúc đi lên một tuyến nhiều pitch. Người trước vẫn móc dây vào điểm bảo vệ. Người sau không đứng yên để bảo hiểm cả pitch như lead thông thường. Đây không phải free solo, vì dây vẫn được móc. Đây cũng không phải rope team hay short-roping: hai cách đó dùng trên địa hình thoải hơn, thường không cần điểm bảo vệ, và short-roping là kiểu hướng dẫn viên đi với khách.

Simul-climbing là kỹ thuật nâng cao. Một người ngã là việc nghiêm trọng. Bài trên Outside năm 2019, được Wikipedia dẫn, nêu quy tắc ngắn: đừng ngã. Climbing (2022) nói người khỏe hơn đi sau. Người đi sau có thể dùng thiết bị hãm trợ lực. Một số đội gắn progress-capture device ở vài điểm bảo vệ để người sau ngã thì khóa giữ người đó, khỏi kéo người trước. Cùng bài Wikipedia ghi không hãng nào khuyến cáo dùng các thiết bị đó cho simul-climbing, và lực ngã có thể lớn hơn mức thiết bị và dây được làm để chịu. Cách này xuất hiện trên sống núi dài, vách nghiêng, và couloir mà cả hai người leo thoải mái nhưng chỗ đó vẫn hở. Short-fixing là cách khác: người trước cố định một đoạn dây cho người sau leo lên, rồi tự bảo hiểm để đi tiếp pitch sau. Đó không phải simul-climbing.

Nút thắt số 3

Cụm này không khớp một tên tiếng Anh cố định trong các trang đã đọc cùng ngày.

Nút số 8 là figure-eight. Đó là nút chặn và, ở dạng xỏ ngược, là nút buộc dây vào đai. Tên Việt của nó là số 8, không phải số 3.

Trong danh sách 16 gút căn bản của Câu lạc bộ Phụ trách Thiếu nhi Ninh Thuận, mục 3 là nút dẹt. Nút dẹt là square knot, còn gọi reef knot: buộc hai đầu của cùng một sợi để giữ một vật, như băng hoặc bó đồ. Bài trường Lê Đức Thọ mô tả đúng việc đó, và nhắc nút này khác nút ăn trộm ở chỗ hai đầu ngắn nằm cùng phía. Nút dẹt không phải nút buộc người, không phải nút nối dây để treo người, và không phải nút Prusik hay thuyền chài.

Nút chịu đơn trong cùng danh sách là overhand, một nút chặn nhỏ. Nút nối dây câu đôi là double fisherman, nút thường dùng để khép vòng dây phụ của Prusik. Không trang nào trong lần đọc này đặt tên "nút thắt số 3" cho hai nút đó.

Khi một giáo trình đánh số lại từ đầu, "số 3" là thứ tự của bài đó, không phải tên nút. Hỏi người dạy mục đó chỉ nút nào trước khi dùng trên người.

Dexamethasone

Dexamethasone là corticosteroid. Trong bệnh độ cao nó là thuốc khác với acetazolamide. Acetazolamide đẩy thích nghi bằng cách tăng thông khí. Dexamethasone không làm việc đó. CDC Yellow Book 2026, đọc ngày 2026-10-15, nói nếu ngừng thuốc khi còn ở trên cao và cơ thể chưa thích nghi thì có thể rebound nhẹ. Wilderness Medical Society, hướng dẫn 2024, nói chưa hết triệu chứng khi đã ngừng thuốc thì chưa lên tiếp.

CDC ưu tiên acetazolamide để dự phòng khi đang lên. Dexamethasone để dành cho điều trị, thường đi cùng việc xuống. Với người nguy cơ trung bình, CDC bảo cân nhắc acetazolamide và có thể mang dexamethasone để dùng khi khẩn. Với nguy cơ cao, CDC khuyến khích mạnh acetazolamide dự phòng và mang dexamethasone để khẩn. Trẻ em: cả CDC và WMS đều không dùng dexamethasone để dự phòng.

Bảng dưới là liều đã công bố, không phải toa. Uống hay không, và liều nào, do thầy thuốc quyết định theo người bệnh và các thuốc đang dùng. Chép bảng này vào túi thuốc không thay việc đó. Các con số của WMS 2024 khớp bảng CDC.

Việc CDC Yellow Book 2026 và WMS 2024
Dự phòng AMS và HACE, người lớn 2 mg mỗi 6 giờ, hoặc 4 mg mỗi 12 giờ
Dự phòng, trẻ em Không khuyến cáo
Điều trị AMS 4 mg mỗi 6 giờ, đường uống, tiêm tĩnh mạch, hoặc tiêm bắp
Điều trị HACE 8 mg một lần, rồi 4 mg mỗi 6 giờ, cùng các đường đó
Trẻ em, điều trị 0,15 mg/kg mỗi liều, mỗi 6 giờ, tối đa 4 mg mỗi liều

Đoạn chữ của CDC còn nói liều người lớn 4 mg mỗi 6 giờ, và hiếm khi cần quá 1 đến 2 ngày. Câu đó không tách dự phòng khỏi điều trị như bảng. Khi hai chỗ trong cùng một chương không cùng độ chi tiết, lấy bảng cho từng việc, và lấy đoạn chữ cho thứ tự ưu tiên: acetazolamide khi đang lên, dexamethasone khi đang trị và đang xuống.

CDC viết dexamethasone cũng có thể dự phòng HAPE. WMS 2024 viết còn thiếu dữ liệu trước khi khuyến cáo nó cho việc dự phòng HAPE. Ghi chú này không gộp hai câu đó thành một chỉ định. Với HAPE, CDC vẫn đặt xuống ngay và oxy lên trước. Nifedipine là thuốc phụ ngoài thực địa khi không xuống ngay được. Dexamethasone không đứng ở chỗ đó.

Xuống thấp vẫn là việc chính với HACE và với AMS đang nặng thêm. Thuốc không thay oxy, túi tăng áp xách tay, hay việc nói với người dẫn đoàn. Phần triệu chứng và lịch acetazolamide của một chuyến cụ thể nằm ở Ladakh.

Xem thêm: Đu dây (abseiling) · Dựng lều và bạt · Ladakh